Cùng thấy chữ H300, H350 hay H400 nhưng hai bảng lại ghi kg/m rất khác nhau chưa chắc bảng nào sai. Việc đầu tiên cần kiểm là chúng có đang nói về cùng một tiết diện hay không. Tên H300/H350/H400 thường chỉ phản ánh chiều cao danh nghĩa; bề rộng cánh, chiều dày bụng và chiều dày cánh mới quyết định diện tích tiết diện và khối lượng trên mét.
Chỉ với nhóm H300 đã có thể gặp 300×150×6,5×9 khoảng 36,7 kg/m và 300×300×10×15 khoảng 93–94 kg/m tùy catalogue/series. H350 và H400 cũng có các mặt cắt rất khác nhau dưới cùng tên gọi rút gọn. Vì vậy không nên giải thích một chênh lệch lớn bằng “dung sai cán” trước khi kiểm đủ H × B × tw × tf và nguồn catalogue đang dùng.
Tên H300, H350 hay H400 chưa đủ để so kg/m
Tên rút gọn theo chiều cao giúp trao đổi nhanh, nhưng không đủ để nhận diện một mặt cắt. Với thép H, chuỗi cần xác định là H × B × tw × tf: chiều cao tiết diện, bề rộng cánh, chiều dày bụng và chiều dày cánh. Chỉ cần B, tw hoặc tf thay đổi thì diện tích thép trên một mét cũng thay đổi, kéo theo kg/m khác.
Đây là lý do hai nhà cung cấp cùng nói “H300” vẫn có thể đang báo hai sản phẩm khác nhau. Một bên có thể nói tới H300×150×6,5×9; bên kia lại báo H300×300×10×15. Cả hai cùng có chiều cao danh nghĩa khoảng 300 mm nhưng lượng vật liệu trong tiết diện chênh rất lớn.
Với người mua, thứ tự đúng nên là đầy đủ tiết diện trước → kg/m sau → chiều dài → số lượng → mác/tiêu chuẩn. Nếu đang đọc bản vẽ hoặc catalogue kỹ thuật và chưa quen bốn kích thước này, xem cách đọc quy cách thép H: H × B × tw × tf.
Bảng tra trọng lượng cũng chỉ nên được mở sau khi đã xác định đúng mặt cắt. Nếu nhập hoặc dò bằng mỗi tên “H300”, nguy cơ lấy nhầm một dòng khác series là rất cao.
Vì sao H300 có thể là 36,7 hoặc 93–94 kg/m?
Hai quy cách H300 dưới đây cho thấy vấn đề rất rõ:
| Quy cách | B | tw | tf | kg/m tham khảo |
|---|---|---|---|---|
| H300×150×6,5×9 | 150 mm | 6,5 mm | 9 mm | 36,7 kg/m |
| H300×300×10×15 | 300 mm | 10 mm | 15 mm | khoảng 93–94 kg/m tùy catalogue/series |
Chênh lệch từ 36,7 lên khoảng 94 kg/m không phải một “sai số nhỏ của nhà máy”. Đây là hai mặt cắt khác nhau rõ ràng: cánh rộng gấp đôi và cả bụng/cánh đều dày hơn ở H300×300×10×15. Nếu chỉ nhìn số 300 rồi so barem, người mua sẽ tưởng hai bảng mâu thuẫn trong khi thực tế đang so hai sản phẩm khác nhau.
Trong giao dịch thị trường, tiết diện 300×150 còn có thể được gọi H/I tùy catalogue kỹ thuật và cách gọi của nhà cung cấp. Vì vậy chữ H hay I đứng trước tên không quan trọng bằng việc giữ nguyên đầy đủ bốn kích thước từ hồ sơ. Nếu BOQ ghi 300×150×6,5×9, hãy gửi đúng chuỗi đó thay vì rút xuống “H300”.
Khi đã biết chính xác quy cách như H300×300×10×15, người mua nên tra trực tiếp trang sản phẩm hoặc catalogue của đúng tiết diện. Nếu hai bảng chỉ ghi H300/H350/H400 mà barem khác nhau, cần quay lại đầy đủ H × B × tw × tf trước khi so các con số.
Cánh và chiều dày làm H350/H400 khác kg/m
H350 cũng có những mặt cắt rất khác nhau dưới cùng tên gọi rút gọn:
| Quy cách | kg/m tham khảo | 12 m quy đổi |
|---|---|---|
| H350×175×7×11 | ~49,4 kg/m | ~592,8 kg/cây |
| H350×350×12×19 | khoảng 135–137 kg/m tùy catalogue/series | khoảng 1.620–1.644 kg/cây 12 m |
H400 cũng vậy. H400×180×8,6×13,5 khoảng 66,3 kg/m, trong khi H400×400×13×21 khoảng 172 kg/m. Cùng chiều cao 400 mm nhưng bề rộng cánh và chiều dày khác hoàn toàn, nên kg/m khác là điều bình thường.

Những ví dụ này cho thấy “H300/H350/H400 nặng bao nhiêu?” chưa phải một câu hỏi đủ dữ liệu. Câu hỏi chính xác hơn phải là “H300/H350/H400 quy cách nào?”. Sau khi có đầy đủ tiết diện mới có thể tra đúng kg/m và kg/cây.
Khi cần tra một quy cách cụ thể, nên dùng bảng tra trọng lượng thép hình hoặc trang sản phẩm của đúng tiết diện. Nếu mục tiêu là lý giải vì sao hai bảng khác nhau, cần so theo thứ tự: đầy đủ H × B × tw × tf → catalogue/series → đơn vị và cách làm tròn → sau cùng mới xét dung sai.
Kg/m khác do tiết diện hay dung sai cán?
Dung sai sản xuất là một lớp khác. Tiêu chuẩn như JIS G 3192:2024 quy định hình dạng, kích thước, khối lượng và sai lệch cho phép của thép hình cán nóng; TCVN 7571-16:2017 cũng quy định các đặc tính cho thép hình chữ H cán nóng. Nhưng các giới hạn đó chỉ có ý nghĩa sau khi đã xác định đúng sản phẩm và đúng tiêu chuẩn áp dụng.

Nếu một bảng ghi 49,4 kg/m và bảng khác ghi 137 kg/m cho “H350”, không nên lấy phần chênh gần 3 lần rồi giải thích là dung sai. Bước đầu phải kiểm xem một bên là H350×175×7×11 còn bên kia là H350×350×12×19 hay không.
Ngay cả khi đầy đủ tiết diện nhìn giống nhau, vẫn cần kiểm catalogue kỹ thuật, series và nguồn dữ liệu. Bảng thị trường có thể làm tròn, dùng dữ liệu từ nhà máy khác hoặc có lỗi nhập liệu. Products Guide của Hyundai Steel, chẳng hạn, cho thấy một số mặt cắt H cùng kích thước danh nghĩa có kg/m khác nhau giữa các series. Khi đơn hàng yêu cầu một nhà máy hoặc catalogue cụ thể, tài liệu của đúng nguồn hàng phải được ưu tiên hơn bảng tổng hợp không rõ nguồn.
Dung sai không nên được dùng như “vùng đệm” để hợp thức hóa mọi chênh lệch. Nếu khối lượng thực giao khác khối lượng danh nghĩa, cần quay về đúng tiêu chuẩn, phương thức giao nhận và checklist nghiệm thu lô trước khi kết luận. Với H, xem nghiệm thu thép hình H khi nhận hàng.
Khi hai bảng barem không giống nhau, nên kiểm gì trước?
Thay vì chọn con số xuất hiện nhiều nhất trên các bảng tổng hợp, nên kiểm theo chuỗi sau:
- So đủ H × B × tw × tf: nếu khác một trong bốn trường, đây trước hết là khác mặt cắt.
- Kiểm chiều dài: kg/m và kg/cây là hai đại lượng khác nhau; cây 6 m và 12 m không thể so trực tiếp bằng tổng kg.
- Kiểm catalogue kỹ thuật hoặc nguồn barem: xác định bảng đang dùng thuộc nhà máy/series/tiêu chuẩn nào.
- Kiểm đơn vị và cách làm tròn: kg/m, kg/cây, tấn/cây hoặc số làm tròn có thể tạo cảm giác bảng khác nhau.
- Sau cùng mới xem dung sai: nếu đầy đủ tiết diện và nguồn áp dụng đã khớp nhưng lô thực tế vẫn chênh, quay về tiêu chuẩn và phương thức giao nhận.
Khi hỏi giá, cũng nên dùng đúng logic này. Gửi “H350” dễ khiến mỗi bên chọn một dòng hàng khác nhau; gửi “H350×350×12×19, 12 m, mác/tiêu chuẩn…, số lượng…” mới tạo ra báo giá có thể so sánh. Nếu vật tư dùng cho Kingpost, xem thêm các thông số cần gửi khi mua thép H làm Kingpost.
Nếu mục tiêu chỉ là tra một quy cách đã biết, dùng bảng tra trọng lượng thép hình. Nếu mục tiêu là hiểu cách đọc mặt cắt từ bản vẽ, dùng hướng dẫn đọc quy cách thép H. Còn khi cùng một tên rút gọn xuất hiện với barem khác nhau, hãy quay lại đầy đủ H × B × tw × tf và nguồn catalogue trước khi kết luận.
Câu hỏi thường gặp về trọng lượng H300, H350 và H400
H300 nặng bao nhiêu kg/m?
Không có một con số duy nhất nếu chỉ ghi H300. Ví dụ H300×150×6,5×9 khoảng 36,7 kg/m, còn H300×300×10×15 có thể khoảng 93–94 kg/m tùy catalogue/series.
H350 49,4 kg/m và 137 kg/m số nào đúng?
Cả hai có thể đúng cho hai mặt cắt khác nhau: H350×175×7×11 khoảng 49,4 kg/m, còn H350×350×12×19 có thể khoảng 135–137 kg/m tùy catalogue/series.
H400 có phải luôn 172 kg/m không?
Không. H400×400×13×21 khoảng 172 kg/m, còn H400×180×8,6×13,5 khoảng 66,3 kg/m. Cùng tên H400 nhưng đây là hai mặt cắt khác nhau.
Barem khác nhau có phải do dung sai không?
Không nên kết luận như vậy trước. Hãy kiểm đầy đủ tiết diện, catalogue kỹ thuật/nguồn dữ liệu và đơn vị trước; dung sai chỉ xét sau khi đã xác định cùng một sản phẩm.

