Quy cách H200 × 200 × 8 × 12 được đọc lần lượt là chiều cao tiết diện 200 mm, chiều rộng cánh 200 mm, chiều dày bụng 8 mm và chiều dày cánh 12 mm. Bốn số này chỉ mô tả hình học mặt cắt. Chiều dài thanh, mác thép, tiêu chuẩn, kg/m, số lượng và yêu cầu chứng từ vẫn phải được xác nhận riêng khi hỏi giá hoặc nhận hàng.

H × B × tw × tf của thép H nghĩa là gì?
Cách ghi H × B × tw × tf giúp người đọc tách bốn thuộc tính hình học chính của tiết diện thép H. Khi đọc bản vẽ, catalogue hoặc báo giá, nên giữ đúng thứ tự này để tránh đổi chỗ chiều dày bụng và chiều dày cánh.
| Ký hiệu | Thuộc tính | Cách hiểu | Điểm dễ nhầm |
|---|---|---|---|
| H | Chiều cao tiết diện | Từ mặt ngoài cánh trên đến mặt ngoài cánh dưới | Không phải khoảng trống giữa hai cánh |
| B | Chiều rộng cánh | Từ mép ngoài này đến mép ngoài kia của cùng một cánh | Không phải khoảng cách từ bụng ra một phía |
| tw | Chiều dày bụng | Chiều dày phần bụng phẳng nối hai cánh | Không đo tại vùng bán kính lượn |
| tf | Chiều dày cánh | Chiều dày của một bản cánh | Không phải tổng chiều dày hai cánh |
Chữ t thường được dùng cho chiều dày; w chỉ web (bụng) và f chỉ flange (cánh). Một số catalogue có thể dùng t1, t2, s hoặc ký hiệu khác. Vì vậy khi nguồn tài liệu đổi, hãy đọc chú giải của chính catalogue đó thay vì giả định mọi bảng dùng cùng tên biến.
Nếu cần quay lại lớp khái niệm trước khi đọc ký hiệu, xem thép hình H là gì và cấu tạo mặt cắt. Nếu mục tiêu là đọc quy cách để hỏi giá hoặc đối chiếu vật tư, bốn kích thước trên là điểm bắt đầu; các trường vật liệu và giao nhận cần được kiểm riêng ở bước tiếp theo.
Đọc H200 × 200 × 8 × 12 thế nào?
Với ví dụ H200 × 200 × 8 × 12, hãy đọc từ trái sang phải theo thứ tự cao → rộng → bụng → cánh:
- H = 200 mm: chiều cao tổng thể của tiết diện.
- B = 200 mm: chiều rộng của mỗi cánh.
- tw = 8 mm: chiều dày danh nghĩa của bụng.
- tf = 12 mm: chiều dày danh nghĩa của cánh.
Tên rút gọn như H200, H300 hay H400 chỉ giúp nhận biết nhanh nhóm chiều cao. Nó chưa đủ để xác định đúng sản phẩm vì cùng chiều cao danh nghĩa vẫn có thể có bề rộng cánh, tw, tf và kg/m khác nhau. Khi hai bảng barem cho số khác nhau, nên kiểm lại đầy đủ H × B × tw × tf và nguồn catalogue trước khi quy chênh lệch cho dung sai.
Hệ ký hiệu cũng thay đổi theo thị trường. Catalogue châu Á thường thể hiện trực tiếp các kích thước mặt cắt; hệ châu Âu có các dòng HEA, HEB, HEM; hệ wide-flange Hoa Kỳ thường dùng ký hiệu W. Các tên gần giống không phải căn cứ để tự thay thế tiết diện.
Ngoài H × B × tw × tf, thép H còn cần ghi gì?
H × B × tw × tf mới trả lời câu hỏi “mặt cắt nào”. Để báo đúng hàng, người mua còn phải xác định các thuộc tính nằm ngoài bốn kích thước đó.
| Thông tin | Cần ghi thế nào? | Vì sao cần tách riêng? |
|---|---|---|
| Loại sản phẩm | H cán nóng hoặc cấu kiện H tổ hợp theo hồ sơ | Hai nhóm có cách sản xuất và hồ sơ khác nhau |
| Chiều dài | Ghi chiều dài từng thanh hoặc chiều dài cắt yêu cầu | Chiều dài không nằm trong H × B × tw × tf |
| Mác thép | Theo bản vẽ, yêu cầu kỹ thuật hoặc PO | Không thể suy ra mác từ hình học |
| Tiêu chuẩn | Ghi tiêu chuẩn vật liệu/kích thước đang áp dụng | Ảnh hưởng cách đối chiếu catalogue và dung sai |
| kg/m và nguồn barem | Đối chiếu đúng catalogue/dòng sản phẩm | Cùng tên rút gọn có thể khác khối lượng |
| Số lượng | Số cây, số bó hoặc khối lượng theo đơn hàng | Phục vụ báo giá và giao nhận |
| Gia công/bề mặt | Cắt, khoan, sơn hoặc yêu cầu khác nếu có | Không thuộc quy cách mặt cắt cơ bản |
| Chứng từ | C/O, C/Q, MTC hoặc tài liệu khác theo PO/hợp đồng | Mỗi loại chứng từ có vai trò khác nhau |

Không nên mặc định một mác thép, nhà máy hoặc bộ chứng từ chỉ vì đã biết H × B × tw × tf. Những trường này phải lấy từ hồ sơ mua hàng, bản vẽ hoặc yêu cầu đã được duyệt.
Đo H, B, tw, tf và đối chiếu kg/m
Khi hàng đã tới kho hoặc công trường, mục tiêu của bước đo là xác nhận vật tư thực tế có cùng cấu hình với quy cách được yêu cầu. Vì vậy cần ghi rõ dụng cụ, vị trí đo và kết quả, thay vì chỉ ghi chung “đúng H200” hoặc “đủ ly”.
| Thuộc tính | Cách kiểm | Lỗi thường gặp |
|---|---|---|
| H | Đo toàn bộ chiều cao ngoài của tiết diện | Đo khoảng trống giữa hai cánh |
| B | Đo toàn bộ bề rộng của một cánh | Đo từ bụng tới mép cánh rồi coi là B |
| tw | Đo phần bụng phẳng tại vị trí phù hợp | Lấy số tại vùng bán kính lượn |
| tf | Đo chiều dày một cánh tại phần đại diện | Nhầm tf với tổng chiều dày hai cánh |
Dung sai không phải một tỷ lệ chung áp cho mọi H, B, tw, tf, chiều dài và khối lượng. Kết quả đo phải được đối chiếu với tiêu chuẩn, catalogue hoặc điều kiện hợp đồng áp dụng cho đúng lô.
Sau khi xác định đúng mặt cắt, có thể tra bảng trọng lượng thép hình để kiểm kg/m, chiều dài và khối lượng dự kiến. Nếu gặp trường hợp cùng tên H300/H350/H400 nhưng hai bảng ghi kg/m khác nhau, xem cách đối chiếu quy cách và nguồn barem trước khi kết luận.
Khối lượng lý thuyết không mặc nhiên là khối lượng thanh toán. Cách giao nhận có thể theo số cây, barem, cân thực tế hoặc điều kiện khác đã thống nhất trong đơn hàng.
Ghi quy cách thép H khi hỏi giá và nhận hàng
Một yêu cầu báo giá rõ ràng nên cho nhà cung cấp đủ dữ liệu để nhận diện đúng sản phẩm ngay từ đầu. Thứ tự thực tế có thể đi theo sáu bước:
- Ghi đủ H × B × tw × tf thay vì chỉ ghi H200/H300/H400.
- Ghi chiều dài và số lượng thành các trường riêng.
- Ghi mác và tiêu chuẩn theo hồ sơ đã duyệt; nếu chưa chốt thì nêu rõ đang chờ xác nhận.
- Chỉ định gia công hoặc bề mặt khi đơn hàng có yêu cầu.
- Nêu yêu cầu chứng từ theo PO/hợp đồng, không mặc định mọi lô đều phải có cùng một bộ giấy tờ.
- Đối chiếu lại khi nhận hàng bằng quy cách, nhãn/lô, khối lượng và chứng từ thực tế.
Ví dụ một dòng yêu cầu báo giá có thể viết: “Thép hình H200 × 200 × 8 × 12 mm; chiều dài 12 m/thanh; mác và tiêu chuẩn theo hồ sơ đính kèm; số lượng … thanh; yêu cầu chứng từ theo PO; giao tại …”. Cách ghi này tách rõ phần hình học với phần vật liệu và điều kiện giao nhận.
Nếu đang chuyển bản vẽ hoặc bảng vật tư thành yêu cầu mua, xem cách đối chiếu hồ sơ thép H theo quy cách, mác, kg/m và chứng từ trước khi so báo giá.
Khi cần xem hàng đang cung ứng, chuyển sang danh mục thép hình H. Khi vật tư đã tới kho hoặc công trường, dùng quy trình kiểm nhận thép hình H để nối kết quả đo với nhãn bó, Heat/Lot, chứng từ và trạng thái lô.
Câu hỏi thường gặp
tw và tf của thép H khác nhau thế nào?
tw là chiều dày bụng nằm giữa hai cánh; tf là chiều dày của một bản cánh. Trong chuỗi H × B × tw × tf, tw đứng trước tf.
H × B × tw × tf có bao gồm chiều dài thanh không?
Không. Bốn thông số chỉ mô tả mặt cắt. Chiều dài phải được ghi riêng trong yêu cầu mua hàng.
Chỉ biết H300 có đủ để hỏi giá không?
Chưa đủ. H300 mới cho biết nhóm chiều cao danh nghĩa. Cần xác định thêm B, tw, tf, kg/m theo nguồn catalogue, chiều dài, mác/tiêu chuẩn và số lượng.
Có thể tính kg/m thép H chỉ từ H × B × tw × tf không?
Bốn kích thước giúp nhận diện hình học chính, nhưng barem catalogue còn phụ thuộc hình học đầy đủ của series, gồm cả các phần như bán kính lượn. Khi mua hoặc nghiệm thu nên dùng kg/m từ đúng catalogue/tiêu chuẩn thay vì một công thức giản lược làm căn cứ duy nhất.
Đo thép H lệch vài milimét có phải không đạt không?
Chưa thể kết luận chỉ từ độ lệch. Cần biết kích thước danh nghĩa, tiêu chuẩn áp dụng, dung sai, vị trí đo và phương pháp đo của lô hàng.

