Giá thép thanh kỳ hạn giảm nhẹ trên SHFE phiên 11/6, trong khi quặng sắt tại DCE tăng nhẹ. Cập nhật giá thép trong nước và triển vọng thị trường nguyên liệu thế giới.
Thị trường thép nguyên liệu toàn cầu ghi nhận sự giằng co nhẹ trong phiên giao dịch mới nhất, khi giá thép thanh giảm trong khi quặng sắt lại biến động trái chiều. Cán cân cung – cầu tiếp tục là yếu tố chi phối triển vọng của mặt hàng đầu vào quan trọng bậc nhất của ngành thép thế giới.
Trong phiên 11/6, giá thép thanh kỳ hạn tháng 7/2026 trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) giảm 5 nhân dân tệ, tương đương 0,16%, xuống 3.177 nhân dân tệ/tấn. Trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Đại Liên (DCE), giá quặng sắt kỳ hạn nhích thêm 2 nhân dân tệ (0,26%) lên 779,5 nhân dân tệ/tấn. Ở chiều ngược lại, hợp đồng quặng sắt tháng 7 trên sàn SGX Singapore giảm 0,22 USD (0,22%) còn 101,23 USD/tấn.
Diễn biến giá thép và quặng sắt trên thị trường quốc tế
Quặng sắt hiện là một trong số ít hàng hóa nguyên liệu lớn hầu như không chịu tác động trực tiếp từ căng thẳng tại Trung Đông. Nguyên nhân chủ yếu do chuỗi cung ứng quặng sắt toàn cầu không đi qua eo biển Hormuz – tuyến hàng hải chiến lược thường xuyên tiềm ẩn rủi ro địa chính trị. Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ khoảng 75% lượng quặng sắt vận chuyển đường biển, chủ yếu nhập khẩu từ Australia và Brazil để phục vụ ngành sản xuất thép, vốn chiếm hơn một nửa sản lượng toàn cầu.


Nhờ đó, giá quặng sắt ít biến động hơn đáng kể so với dầu thô, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), than đá, đồng hay nhôm. Từ đầu năm đến nay, hợp đồng quặng sắt trên sàn Singapore dao động trong biên độ khoảng 14 USD/tấn quanh mức 105 USD/tấn. Giá từng tăng từ 98,2 USD/tấn hồi 20/2 lên 112 USD/tấn vào 11/5 trước lo ngại nguồn cung nhiên liệu hàng hải bị gián đoạn, nhưng sau đó hạ nhiệt và chốt ở 101,65 USD/tấn vào ngày 10/6.
Mặc dù giá ổn định, nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc vẫn duy trì đà tăng trưởng. Trong 5 tháng đầu năm, nước này đã nhập khẩu 516,26 triệu tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, tháng 5 chỉ ghi nhận 97,71 triệu tấn, giảm 6% so với tháng 4 và là mức thấp nhất trong ba tháng. Con số này thấp hơn đáng kể so với ước tính của các tổ chức theo dõi hàng hóa quốc tế như DBX Commodities (dự báo 105,56 triệu tấn) hay Kpler (106,4 triệu tấn). Khoảng chênh lệch hơn 8 triệu tấn được cho là do một phần lô hàng cập cảng cuối tháng 5 đã được chuyển sang ghi nhận vào tháng 6, khiến số liệu tháng tới có thể phục hồi mạnh.
Đáng chú ý, dù nhập khẩu quặng sắt tăng, sản lượng thép của Trung Quốc trong 4 tháng đầu năm lại giảm 4,1% so với cùng kỳ, xuống 331,12 triệu tấn. Lý giải cho nghịch lý này là lượng tồn kho quặng sắt tại các cảng biển Trung Quốc vẫn ở mức cao. Sau khi lập kỷ lục 166,91 triệu tấn vào giữa tháng 3, tồn kho đã giảm về 159,09 triệu tấn đầu tháng 6, nhưng vẫn cao hơn 21% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá thép trong nước duy trì ổn định
Trong khi thị trường quốc tế diễn biến phân hóa, giá thép trong nước tiếp tục được các doanh nghiệp bình ổn. Cụ thể, Hòa Phát niêm yết giá thép CB240 và D10 CB300 cùng mức 15.120 đồng/kg. Thép Việt Ý (miền Bắc) ghi nhận CB240 14.850 đồng/kg. Thép Việt Đức (miền Bắc) báo giá CB240 và CB300 đồng loạt 14.750 đồng/kg. Thép VJS miền Bắc chào CB240 14.850 đồng/kg và D10 CB300 14.750 đồng/kg. Thép Thái Nguyên công bố CB240 14.990 đồng/kg và D10 CB300 14.890 đồng/kg.


Trong bối cảnh thị trường thép công nghiệp phát triển, các đơn vị phân phối chuyên nghiệp như Thép Trần Long (thành lập năm 2009, trụ sở tại 358 Ngô Gia Tự, Long Biên, Hà Nội) tiếp tục đóng vai trò cầu nối cung ứng thép hình, thép tấm và thép kết cấu cho nhiều dự án. Với lượng tồn kho lớn, khả năng giao hàng nhanh và dịch vụ tư vấn kỹ thuật, đơn vị này góp phần ổn định nguồn cung trong nước.
