Giá thép và quặng sắt kỳ hạn cùng giảm khi nguồn cung về cảng Trung Quốc phục hồi sau siêu bão Bavi. Giá thép trong nước ổn định. Cập nhật số liệu sản xuất, tồn kho và triển vọng ngày 22/7/2026.
Phiên giao dịch ngày 21/7 ghi nhận đà giảm của cả giá thép và quặng sắt kỳ hạn, khi hoạt động vận tải và khai thác cảng tại Trung Quốc dần trở lại bình thường sau siêu bão Bavi. Nhu cầu tiêu thụ yếu theo mùa cùng áp lực hàng về cảng gia tăng đã kéo giá quặng sắt đi xuống rõ rệt.
Trong nước, giá thép xây dựng vẫn duy trì ổn định. Các doanh nghiệp phân phối như Thép Trần Long (thành lập 2009, trụ sở 358 Ngô Gia Tự, Long Biên, Hà Nội) với thế mạnh thép hình, thép tấm, thép kết cấu công nghiệp, sẵn sàng cung ứng nhanh chóng nhờ lượng tồn kho lớn và đội ngũ tư vấn kỹ thuật chuyên sâu.
Diễn biến giá thép và quặng sắt kỳ hạn
Trên Sàn Giao dịch Thượng Hải (SHFE), hợp đồng thép thanh kỳ hạn tháng 8/2026 chốt phiên 21/7 ở mức 3.069 nhân dân tệ/tấn, giảm 7 nhân dân tệ (0,23%) so với phiên trước. Tại Sàn Đại Liên (DCE), quặng sắt kỳ hạn tháng 8 giảm 10 nhân dân tệ (1,32%) còn 746 nhân dân tệ/tấn, trong khi trên Sàn Singapore (SGX), giá quặng sắt cùng kỳ hạn cũng mất 1,17 USD (1,17%) xuống 98,45 USD/tấn.


Biên độ dao động của ba sàn cho thấy áp lực bán chiếm ưu thế khi thị trường hấp thụ thông tin nguồn cung quặng sắt về cảng Trung Quốc phục hồi mạnh sau gián đoạn thời tiết.
Nguyên nhân quặng sắt lao dốc: Nguồn cung phục hồi sau bão Bavi
Siêu bão Bavi (cấp 4–5) quét qua vùng ven biển phía đông Trung Quốc từ các ngày 10–12/7, buộc cảng Ninh Ba phải tạm ngừng khai thác bến từ 10/7. Mưa lớn và tình trạng đóng đường khiến hoạt động vận chuyển bị đình trệ trên diện rộng. Tuy nhiên, từ sau ngày 14/7, thời tiết cải thiện, các tuyến vận tải thông suốt trở lại, kéo theo lượng hàng dồn về cảng tăng đột biến, gây sức ép giảm giá lên mặt hàng quặng.


Giới phân tích đánh giá rằng đợt giảm này phản ánh sự bình thường hóa của logistic hơn là sự thay đổi căn bản về cán cân cung – cầu, và nếu nhu cầu tiêu thụ thép không sớm cải thiện, giá quặng có thể còn tiếp tục biến động.
Ngành thép Trung Quốc: Sản lượng cao nhưng nhu cầu vẫn yếu
Số liệu tháng 6 cho thấy sản lượng thép của Trung Quốc đạt 83,67 triệu tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2025 nhưng giảm nhẹ so với 84,36 triệu tấn của tháng 5. Sản lượng trung bình ngày lên tới 2,79 triệu tấn – mức cao nhất kể từ tháng 3. Dù vậy, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 chỉ đạt 499,95 triệu tấn, giảm 3% so với cùng kỳ, khiến kỳ vọng cả năm tiếp tục dưới 1 tỷ tấn năm thứ hai liên tiếp.


Triển vọng tiêu thụ vẫn đối mặt nhiều trở ngại. Đầu tư bất động sản nửa đầu năm giảm 18% so với cùng kỳ 2025, số dự án khởi công mới giảm 23,4%, doanh số bán nhà theo diện tích sàn giảm 11,6%. Lĩnh vực ô tô – một trụ cột khác – cũng ghi nhận doanh số giảm 4,1% sau khi tăng 11,4% cùng kỳ năm trước. Bức tranh chung vẫn là trạng thái cung vượt cầu trong bối cảnh nền kinh tế vận hành đa tốc.
Tồn kho thép thanh tại Trung Quốc tính đến ngày 17/7 ở mức 4,94 triệu tấn, thấp hơn 5,93 triệu tấn của năm 2024 nhưng cao hơn mức 3,72 triệu tấn cùng kỳ năm ngoái, phản ánh nhu cầu tiêu thụ chưa thực sự khởi sắc. Giá thép thanh chuẩn tại Thượng Hải chốt phiên 20/7 ở 3.104 nhân dân tệ/tấn, nằm giữa biên độ 3.051 – 3.275 nhân dân tệ duy trì từ đầu năm.
Quặng sắt – Mắt xích vượt trội với áp lực tồn kho
Ở chiều ngược lại, quặng sắt vẫn là điểm sáng trong chuỗi giá trị. Nhập khẩu tháng 6 đạt 112,69 triệu tấn, mức cao nhất trong 6 tháng, tăng 6,4% so với cùng kỳ. Tính chung nửa đầu năm, tổng nhập khẩu đạt 628,87 triệu tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ 2025. Tồn kho tại các cảng do SteelHome theo dõi giảm về 156,6 triệu tấn vào ngày 17/7, từ mức kỷ lục 166,9 triệu tấn giữa tháng 3, nhưng vẫn cao hơn 19,6% so với cùng kỳ năm ngoái.


Với kỳ vọng nguồn cung từ dự án Simandou (Guinea) công suất 120 triệu tấn/năm sẽ gia nhập thị trường, giới chuyên gia không đánh giá cao khả năng giá và nhập khẩu quặng duy trì đà tăng mạnh trong dài hạn.
Giá thép xây dựng trong nước ổn định
Tại thị trường Việt Nam, các doanh nghiệp giữ giá bán không đổi so với các phiên trước. Thép Hòa Phát niêm yết CB240 và D10 CB300 cùng mức 15.120 đồng/kg. Thép Việt Ý miền Bắc đưa ra giá CB240 là 14.850 đồng/kg. Thép Việt Đức miền Bắc duy trì cả CB240 và CB300 ở 14.750 đồng/kg. Các thương hiệu khác như VJS miền Bắc báo CB240 14.850 đồng/kg và D10 CB300 14.750 đồng/kg; Thép Thái Nguyên chào giá CB240 14.990 đồng/kg và D10 CB300 14.890 đồng/kg.


Trong bối cảnh biến động của giá quốc tế nhưng thị trường nội địa vẫn bình ổn, những đơn vị phân phối giàu kinh nghiệm như Thép Trần Long – chuyên cung ứng thép hình, thép tấm, thép kết cấu công nghiệp với lượng tồn kho lớn, giao hàng nhanh – tiếp tục là lựa chọn tin cậy cho các công trình và nhà máy sản xuất.
Góc nhìn mua thép cho công trình
Diễn biến quặng sắt và giá thép kỳ hạn là tín hiệu tham khảo, nhưng không đồng nghĩa giá bán thép hình trong nước sẽ thay đổi cùng thời điểm hoặc cùng tỷ lệ. Khi lập kế hoạch mua H/I/U/V, nhà thầu nên yêu cầu báo giá ghi rõ quy cách, xuất xứ, mác thép, CO/CQ, VAT, vận chuyển và thời hạn hiệu lực. Có thể đối chiếu trước tại bảng tra trọng lượng thép rồi gửi danh sách quy cách cho Thép Trần Long để kiểm tra khối lượng và khả năng cung ứng.
Các bản tin thị trường trên website được biên soạn và kiểm tra theo định hướng chuyên môn của Trần Quang Long. Xem hồ sơ tác giả để hiểu thêm kinh nghiệm và nguyên tắc biên tập nội dung ngành thép.
Các bản tin thị trường trên website được biên soạn và kiểm tra theo định hướng chuyên môn của Trần Quang Long. Xem hồ sơ tác giả để hiểu thêm kinh nghiệm và nguyên tắc biên tập nội dung ngành thép.
